Get in touch
or send us a question?
CONTACT

Đôi điều về Contact tracing và ứng phó với Covid-19

Khi cuộc chiến toàn cầu chống lại đại dịch COVID-19 vẫn đang tiếp tục, phần lớn thế giới đang nuôi hy vọng nới lỏng việc phong tỏa bằng việc có thể nhanh chóng xác định những người có thể đã tiếp xúc với virus. Nhưng việc ‘truy vết tiếp xúc’ như vậy là một quá trình tốn kém, chậm chạp, dựa vào phỏng vấn trực tiếp và điều tra. Điện thoại thông minh: Có một loại ứng dụng mới nhằm mục đích tự động hóa quá trình ghi lại sự di chuyển của một người để tìm những người mà họ có thể đã bị lây nhiễm – và thông báo cho những người đó trong sớm nhất có thể. Hiệu quả của các ứng dụng như vậy vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Ý tưởng của mô hình này cho thấy chúng có thể giúp làm chậm sự lây lan của virus – nhưng chỉ khi có đủ số lượng người sử dụng nhất định. Các ứng dụng này cũng làm dấy lên những lo ngại về quyền riêng tư, vì một số ứng dụng phải lưu trữ dữ liệu người dùng trên các máy chủ trung tâm nếu mọi người được xác định và theo dõi.

Trong vài tháng qua, các nhà nghiên cứu và nhà phát triển trên khắp thế giới đã chạy đua để thiết kế các giao thức nhằm giành được sự tin tưởng của công chúng và có thể áp dụng rộng rãi. Họ đã nhận được sự thúc đẩy từ những gã khổng lồ công nghệ là Apple và Google, những công ty đang triển khai một nền tảng chung thông qua bản cập nhật hệ điều hành IOS/Android.Kỷ nguyên mới của theo dõi truy vết tiếp xúc (Contact tracing)Trong vài tháng qua, một số nhóm nghiên cứu đã phát triển các giao thức làm sao chú trọng đến quyền riêng tư, bao gồm nhóm TraceTogether ở Singapore, nhóm Theo dõi truy vết tiếp xúc tự động riêng tư (PACT) do các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Cambridge dẫn đầu, và ở Liên minh Châu Âu với Decentralized Privacy-Preserving Proximity Tracing (DP-3T).

Ba nhóm này đã chấp nhận một khái niệm chung cơ bản (xem ‘Ảnh’). Một điện thoại thông minh thường xuyên phát một chuỗi ký tự ngẫu nhiên dùng làm bí danh cho các điện thoại khác bằng cách sử dụng đặc điểm của công nghệ Bluetooth để gửi các loạt dữ liệu ngắn. Điện thoại sẽ sử dụng một chuỗi thông tin mới sau mỗi 15 phút hoặc lâu hơn để tăng tính ẩn danh. Đồng thời, nó ghi lại mọi tiếng ‘chip’ mà nó nghe được từ các điện thoại khác, cũng như thông tin về cường độ tín hiệu để ước tính khoảng cách của các điện thoại.

Nếu một người bị phát hiện bị nhiễm bệnh, họ đồng ý tải danh sách các thông tin về các tiếp xúc giữa điện thoại của họ với các điện thoại khác lên cơ sở dữ liệu do nhà vận hành ứng dụng duy trì. Không có thông tin nhận dạng cá nhân hoặc vị trí nào được giữ lại. Các điện thoại khác có thể tải xuống cơ sở dữ liệu đó, so sánh với lịch sử kết nối của họ và cảnh báo cho người dùng nếu họ đã tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh đủ lâu để có nguy cơ lây nhiễm.

Ứng dụng TraceTogether của Singapore được phát triển bởi bộ y tế và cơ quan công nghệ và được phát hành vào ngày 20 tháng 3. Mặc dù mang tính đột phá, nhưng nó đã bộc lộ một hạn chế kỹ thuật rõ ràng đối với cách tiếp cận chung này: do các biện pháp bảo mật áp đặt cho chức năng Bluetooth của hệ điều hành IOS (Apple), để ứng dụng có thể hoạt động được truy vết, iPhone phải luôn mở khóa khi ứng dụng đang mở, một điều bất tiện lớn và hao pin.

‘Gappling’ với các giải pháp truy vết để nâng hiệu quả Vào ngày 10 tháng 4, Apple và Google thông báo rằng họ sẽ hợp tác trên một nền tảng theo dõi truy vết chung. Hai gã khổng lồ công nghệ đang triển khai các chức năng mật mã để tạo và xử lý các bí danh trực tiếp vào hệ điều hành (IOS, Android). Điều đó sẽ giải quyết vấn đề pin bằng cách cho phép các ứng dụng thu thập dữ liệu truy vết chạy nền. Điều này cũng bổ sung một lớp bảo mật bổ sung – ngay cả các ứng dụng cũng không thể nghe thấy tiếng kêu khi có kết nối. Thay vào đó, các cơ quan y tế của các quốc gia có nhu cầu sử dụng giao thức này cho các ứng dụng của riêng họ sẽ có thể truy cập được thông qua API được gọi là ‘Exposure Notification API’, cho phép các ứng dụng này đăng nhập và nhận dữ liệu.

Mặc dù các quốc gia vẫn cần phát triển ứng dụng của riêng họ để tận dụng giao thức mới, việc xử lý các bí danh hoàn toàn diễn ra trên điện thoại của người dùng.Một số ứng dụng thậm chí còn đi xa hơn và thu thập dữ liệu vị trí GPS, gửi nó đến một máy chủ trung tâm. Ví dụ như ứng dụng Aarogya Setu của Ấn Độ, đã được 100 triệu người dùng tải xuống, cũng như các ứng dụng được phát triển bởi một số bang của Hoa Kỳ, bao gồm Utah và Bắc và Nam Dakota. Apple và Google sẽ không cho phép các ứng dụng ghi lại dữ liệu vị trí sử dụng API của họ.

Còn nhiều thách thức. Ngoài những lo ngại về quyền riêng tư, một thách thức thực tế quan trọng đối với tính năng theo dõi truy vết dựa trên điện thoại là thực hiện các phép đo chính xác về mức độ gần nhau của hai thiết bị. Daniel Weitzner, một nhà lãnh đạo của nhóm PACT tại MIT, cho biết cường độ tín hiệu có thể thay đổi tùy theo hướng của điện thoại cho dù nó đang ở trong tay bạn hay trong túi.

Một thách thức khác là đảm bảo có đủ lượng người tải xuống ứng dụng để làm cho nó hoạt động hiệu quả. Nhóm TraceTogether cho biết 1,1 triệu người dân Singapore đã tải xuống ứng dụng (không phải sử dụng giao thức Gapple) tính đến ngày 20 tháng 4 – tức khoảng 1/5 dân số Singapore. Điều đó có nghĩa là chỉ có 4% khả năng hai người đồng thời cùng cài ứng dụng, hiệu quả của ứng dụng bị hạn chế rất nhiều.

Các ứng dụng cũng loại bỏ tất cả mọi người không sở hữu điện thoại thông minh – những người thường nằm trong số những người dễ bị COVID-19 nhất, chẳng hạn như người lớn tuổi và người lao động nhập cư.Sự không tin tưởng vào các chính phủ và sự thận trọng của các công nghệ lớn có thể mang đến những thách thức lớn nhất cho việc theo dõi truy vết dựa trên điện thoại di động. Kreps nói: “Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của‘ techlash ’.

Sau đợt bùng phát hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) năm 2015 ở Hàn Quốc – dẫn đến 186 trường hợp và 38 người chết – Quốc hội nước này đã ủy quyền cho chính phủ truy cập các hồ sơ như dữ liệu vị trí điện thoại di động và công bố các vị trí chuyển động của các trường hợp lây nhiễm cho công chúng. Kết hợp với test nhanh và giãn cách xã hội, chiến lược này đã hoạt động hiệu quả khi COVID-19 xuất hiện. Đến cuối tháng 4, các trường hợp lây truyền trong cộng đồng được báo cáo đã giảm xuống gần bằng không. Vào giữa tháng 5, một nhóm mới gồm hơn 160 trường hợp đã xuất hiện, được truy tìm từ các hộp đêm ở Seoul. Nhưng tính đến ngày 17 tháng 5, số trường hợp lây truyền cục bộ hàng ngày lại giảm xuống còn một con số. Các cuộc khảo sát cho thấy công chúng Hàn Quốc ủng hộ rộng rãi các biện pháp can thiệp.

Chúng ta có thể học hỏi người bạn Đông Á này điều gì ko? Cài Bluezone.

Nguồn :https://www.nature.com/articles/d41586-020-01514-2

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments